Trả lời ngắn gọn: Khi nồng độ dung dịch glyxerol càng lớn thì khả năng hút nước càng mạnh, nó có thể một mặt hấp thụ nước từ không khí, cũng có thể hút nước từ lớp da.
Bản chất hóa học
Vào mùa đông thời tiết thường khô hanh, người ta thường bôi lên da một chút glyxerol. Glyxerol tinh khiết là chất màu trắng, kết tinh, nhưng khi nhiệt độ cao hơn 17°C thì sẽ nóng chảy.
Nhưng glyxerol thường hút nhiều hơi ẩm và tạp chất, nên sẽ không ở trạng thái rắn mà là ở trạng thái lỏng, không màu sắc, không mùi. Glyxerol có vị ngọt, điều đó có liên quan đến cấu tạo phân tử của glyxerol.
Phản ứng và điều kiện liên quan
Glyxerol có ba nhóm hyđroxyl trong phân tử nên có vị ngọt. Trong phân tử glyxerol có ba nguyên tử oxy, mỗi nguyên tử oxy kết hợp với một nguyên tử hyđro, tạo nên ba nhóm hyđroxyl – OH.
Nói chung so với glyxerol, đường đơn (như đường glucoza hoặc fructoza), đường kép như (saccaroza), có số nhóm hyđroxyl nhiều hơn nên ngọt hơn. Glyxerol là “một vệ sĩ” của da, vì glyxerol giữ được nước, bảo vệ da không bị khô.
Khi nồng độ dung dịch glyxerol càng lớn thì khả năng hút nước càng mạnh, nó có thể một mặt hấp thụ nước từ không khí, cũng có thể hút nước từ lớp da. Nếu như vậy thì bôi glyxerol lên da có thể làm da bị khô?
Cách áp dụng và lưu ý
Thực tế chứng minh, glyxerol chứa 20% nước, thích hợp cho tác dụng bảo vệ da. Có điều đáng chú ý là loài người đã sớm biết dùng hỗn hợp axit nitric và axit sunfuric xử lý glyxerol, điều chế được nitrat glyxerol hoà tan trong nước để điều trị bệnh phổi.
Về sau người ta nghĩ đến việc khử nước hoà tan trong glyxerol và chế tạo được nitroglyxerol tinh khiết và thu được một loại thuốc nổ mạnh trong phòng thí nghiệm. Bấy giờ người ta mới biết nitroglyxerol là loại thuốc nổ rất mạnh.
Công nghệ xử lý glyxerol thường liên quan đến axit sunfuric, các muối kim loại nặng, asen và nhiều chất màu hữu cơ, chúng đều có màu vàng, mùi khó ngửi, kích thích da, nên không được dùng glyxerol công nghiệp để bôi lên da.
